0903 425 579

Chất thải nguy hại là gì?

Chất thải nguy hại là gì?

Chất thải nguy hại là gì? Định nghĩa chất thải nguy hại

Chúng ta ai cũng biết và né tránh chất thải nguy hại. Nhưng mỗi chúng ta có thể không, có thể chưa biết đầy đủ, chính xác về khái niệm chất thải nguy hại. Vậy nên hôm nay mời bạn cùng mua phế liệu 365 xác định định nghĩa chất thải nguy hại nhé.

Thuật ngữ chất thải nguy hại lần đầu tiên xuất hiện vào những năm đầu của thập niên 70. Sau một thời gian nghiên cứu và phát triển và tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất thải nguy hại. Điển hình tại 1 số quốc giá thì khái niệm chất thải là gì được định nghĩa là:

– Tại Tại Việt Nam: chất thải nguy hại là những chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính gây nguy hại trực tiếp (làm ngộ độc, dễ cháy, dễ nổ,  dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác với chất khác dễ gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người.

– Tại Philiphine: chất thải nguy hại là những loại chất có độc tính, hoạt tính, có thể cháy, ăn mòn, gây kích thích, nổ mà gây nguy hiểm cho người và động vật.

– Tại Canada: chất thải nguy hại được khái niệm là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường. Và những chất này yêu cầu các kỹ thuật cáo để xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó.

– Tại Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc  tháng 12 năm 1985: ngoài chất thải y tế và chất thải phóng xạ , chất thải nguy hại là chất thải có hoạt tính hóa học, độc tính, gây nguy hại,  nổ, ăn mòn hoặc có đặc tính khác hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường khi tiếp xúc hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác.

– Tại Mỹ: sẽ được coi là chất thải nguy hại khi: Có một trong bốn đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm độc tính, cháy nổ, ăn mòn, phản ứng. Được nhà sản xuất công bố là chất thải nguy hại.

Nguồn phát sinh chất thải nguy hại

Chúng ta có thể hiểu nguồn phát sinh: Hầu hết tất cả các ngành nghề hiện nay đều phát sinh chất thải nguy hại. Tùy theo mỗi lĩnh vực mà lượng phát sinh chất thải nguy hại đặc trưng cho từng ngành:

Công nghiệp: Đó là vật chất phát sinh trong quá trình mạ kim loại là các kim loại nặng Cr, Ni, dung dịch axit,… sản lượng này khoảng 130.000 tấn hàng năm. (trong đó: Chế biến thực phẩm 8%, Công nghiệp nhẹ chiếm 47%, CN hoá chất 24%, Luyện kim 20%,  Điện, điện tử 1%)

Trong ngành Nông nghiệp:
Trông trọt: Bao bì thuốc trừ sâu, các thuốc trừ sâu cấm sử dụng và các loại thuốc hết hạn sử dụng,…
Chăn nuôi: Kim tiêm, bình đựng thuốc, phân, vỏ chai thuốc,… chứa dược phẩm gây độc tế bào (cytotoxic và cytostatic), gia súc – gia cầm chết do dịch bệnh.
Theo thống kê, Ở Việt Nam lượng rác thải độc hại từ nông nghiệp hàng năm khoảng 3.600 tấn/ năm, chưa kể 37.000 tấn chất hoá chất cấm sử dụng đang tồn khotại các công ty xí nghiệp, cơ quan môi trường thu hồi chưa có biện pháp xử lý.
Khoáng sản: Quặng sắt, bùn thải, quặng sulfua thải và chất thải có chứa hắc ín thải, dầu, …
Cơ khí: Là những vật chất phát sinh chất thải có chứa amiăng, sáp – mỡ thải, xăng-dầu – nhớt thải,, bùn thải từ thiết bị chặn dầu- tách dầu, bùn thải hoặc chất thải có chứa halogen hữu cơ…
Dịch vụ: Như vật thải của ngành tráng phim, chất thải phóng xạ, chất thải từ chăm sóc y tế, hoá trị liệu,… trong đó rác thải y tế khoảng 21.000 tấn hàng năm.
Điện: Các thiết bị điện có chưa PCB, amiăng, CFC, HCFC, HFC..
Nguồn thải từ sinh hoạt: các loại bình acquy, pin hỏng, chất thải có thành phần sơn – vecni – chất kết dính- chất bịt kín – mực in, đèn huỳnh quang thải, thuốc diệt trừ các loài gây hại..

Xử lý chất thải nguy hại

Ngày nay, cùng với tiến bộ khoa học kĩ thuật, chất thải nguy hại có thể được xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau.

Phương pháp hóa học và phương pháp hóa lý

Là quá trình được sử dụng rộng rãi trong xử lý nước sinh hoạt, nước thải nguy hại và nước thải công nghiệp không độc hại hay nước thải sinh hoạt. Được dùng để xuy hóa-khử các thành phần hữu cơ có độc tính trong nước thải, chẳng hạn như Phenol, chất BVTV, dung môi hữu cơ chứa Clo, hợp chất đa vòng, benzen, toluen,… hay các thành phần vô cơ như sunfit, amoniac, xyanua và kim loại nặng.

– Xử lý đất bằng trích ly bay hơi: Kỹ thuật dùng để xử lý đất bị ô nhiễm chất hữu cơ bay hơi (VOC). Kỹ thuật được áp dụng đối với tầng đất chưa bão hòa (nằm trên mực nước ngầm) hoặc đối với đất ô nhiễm đã được đào lên.

– Hấp thu khí: Kỹ thuật này được dùng để xử lý nước ngầm bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ bay hơi với nồng độ thấp < 200 mg/l, không thích hợp với chất ô nhiễm kém bay hơi.

– Chưng cất (Hấp thụ hơi): Kỹ thuật được dùng để loại chất hữu cơ bay hơi và bán bay hơi trong nước thải và nước ngầm.

– Hấp phụ: Là quá trình tách chất ô nhiễm trong không khí, nước bằng chất hấp phụ. Trong kỹ thuật xử lý chất thải nguy hại, chất hấp phụ thường được dùng là than hoạt tính để loại bỏ các thành phân chất hữu cơ độc hại trong nước ngầm và nước thải công nghiệp.

– Oxy hóa học: Đây là phương pháp sử dụng tác nhân oxy hóa để oxy hóa chất hữu cơ trong chất thải với mục đích chuyển đổi dạng hoặc thành phần chất thải là mất đi hoặc giảm độc tính của nó.

– Dòng tới hạn: Là dòng vật chất được gia tăng nhiệt độ và áp suất để có tính chất giữa lỏng và khí. Có hai kỹ thuật được ứng dụng trong xử lý chất thải nguy hại hiện nay là:

Trích ly sử dụng dòng tới hạn: Các chất hữu cơ trong đất, cặn lắng hay nước trong điều kiện áp suất và nhiệt độ cao sẽ hòa tan vào dòng tới hạn sau đó sẽ được tách ra khỏi dòng ở điều kiện áp suất và nhiệt độ thấp.

Oxy hóa dùng dòng tới hạn: khí và nước ô nhiễm sẽ được đưa đến trên điểm tới hạn của nước. Trong điều kiện này các thành phần hữu cơ ô nhiễm được oxy hóa nhanh chóng.

– Màng: Là quá trình được dùng để tách nước từ dòng ô nhiễm. Có các loại như vi lọc, siêu lọc, thẩm thấu ngược, màng điện tích.

Phương pháp ổn định hóa rắn

Phương pháp ổn định hóa rắn là quá trình làm tăng các tính chất vật lý của chất thải, giảm khả năng phát tán vào môi trường hay làm giảm tính độc hại của chất ô nhiễm. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong quản lý chất thải nguy hại.

Các chất phụ gia thường dùng để ổn định hóa rắn chất thải nguy hại:

Xi măng: là chất hay được sử dụng nhất để đóng rắn chất thải nguy hại. Loại xi măng thông dụng nhất là xi măng Portlan được sản xuất bằng cách nung hỗn hợp đá vôi với thạch cao (hoặc chất silicat khác) trong là nung nhiệt độ cao

Đất sét hữu cơ biến tính: là đất sét tự nhiên đã được biến tính hữu cơ để trở thành đất sét organophobic.
Các polymer hữu cơ

Pozzolan: là một chất mà có thể phản ứng với vôi có trong nước để tạo thành vật liệu có tính chất như xi măng. Phản ứng giữa nhôm-silic, vôi và nước sẽ tạo thành một loại sản phẩm là pozzolan. Các vật liệu pozzolan bao gồm xỉ than, xỉ lò và bụi lò xi măng.
Silicat dễ tan

Nhiệt dẻo: Các chất thải nguy hại có thể được làm ổn định bằng cách trộn các vật liệu nhiệt dẻo đã được nấu chảy với chất thải ở nhiệt độ cao.

Phương pháp sinh học

Xử lý chất thải bằng phương pháp sinh học chính là sử dụng vi sinh vật để phân hủy và biến đổi chất hữu cơ trong chất thải nhằm giảm các nguy cơ của nó với môi trường. Trong quản lý chất thải nguy hại, việc xử lý chất hữu cơ nguy hại có thể thực hiện được nếu sử dụng đúng loài vi sinh vật và kiểm soát quá trình hợp lý.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh học bao gồm:

Nguồn năng lượng và nguồn cơ chất: nguồn năng lượng có thể là ánh sang, phản ứng oxy hóa khử của chất vô cơ và chất hữu cơ. CÒn nguồn carbon (cơ chất) có thể là CO2 và chất hữu cơ

Tính ức chế và độc tính của cơ chất đối với sinh vật

Cộng đồng vi sinh vật

Quá trình enzyme

Tính có thể phân hủy sinh học của cơ chất

Các loại hệ thống xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp sinh học có thể chia thành các loại như sau:

Các hệ thống thông thường: bùn lơ lửng, hiếu khí, kỵ khí

Xử lý bùn lỏng: dùng xử lý bùn với hàm lượng cặn từ 5-50%

Xử lý tại nguồn: dùng xử lý nước ngầm và đất ô nhiễm

Xử lý dạng rắn: xử lý bùn và chất rắn có độ ẩm thấp

Phương pháp nhiệt

Đây là kỹ thuật xử lý chất thải nguy hại có nhiều ưu điểm hơn các kỹ thuật xử lý khác, được sử dụng để xử lý chất thải nguy hại không thể chôn lấp mà có khả năng cháy. Phương pháp này được áp dụng cho tất cả các dạng chất thải rắn lỏng khí. Trong phương pháp này, nhờ sự oxy hóa và phân hủy nhiệt, các chất hữu cơ sẽ được khử độc tính và phá vỡ cấu trúc. Tùy theo thành phần chất thải mà khí sinh ra từ quá trình đốt có thành phần khác nhau. Nhìn chung, thành phần khí thải cũng có các thành phần như sản phẩm cháy thông thường (bụi, CO2, CO, SOx, NOx). Tuy nhiên trong thành phần khí thải còn có các thành phần khác như HCl, HF, P2O5, Cl2,…

Hiện nay các thiết bị lò đốt thường dược sử dụng:

– Lò đốt chất lỏng

– Lò đốt tầng sôi

– Lò xi măng

– Lò hơi

– Lò đốt thùng quay

– Lò đốt gi/vỉ cố định

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *